Tìm Phật

Dương Phủ từ biệt song thân tìm đến Tứ Xuyên cầu học Bồ Tát Vô Tế, trên đường gặp một vị Hoà thượng, Ngài hỏi Dương Phủ: “Ông đi đâu vậy?”

Dương Phủ trả lời, ông đi cầu học Bồ Tát Vô Tế.

Hoà thượng liền bảo: “Sao phải đi tìm Bồ Tát mà không tìm Phật.”

Dương Phủ hỏi: “Ở đâu có Phật ạ!”

Hoà Thượng đáp: “Khi ông về nhà, thấy có một người khoát tấm chăn, mang lộn đôi dép đón ông, nên nhớ vị đó chính là Phật”

Dương Phủ nghe Hòa thượng dạy xong, trong tâm vô cùng phấn khời, chạy thẳng về nhà. Khi tới nhà trời đã quá khuya, ông ta nhất định phải tìm thấy Phật, lo lắng hấp tấp gõ cửa: “Mở cửa! Nhanh lên!” Mẹ Dương Phủ đang ngũ, vừa nghe con mình gọi cửa, mừng quá mặc đồ không kịp, liền lấy tấm chăn khoát đỡ lên người, trong lúc vội vả mang dép cũng bị lộn, vọi vàng ra mở cửa cho con. Lúc mở cửa, Dương Phủ vừa nhìn thấy mẹ như vậy, cuối cùng ông đã hiểu ra được dụng tâm của Hòa thượng.

Giác Nhường

(Trích dịch từ Trí Tuệ Phật Giáo)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Các bạn thường nghe câu “Phật trong nhà không thờ, thờ Thích Ca ngoài đường”, câu này cũng hàm nghĩa giống như nội dung của câu chuyện trên. Tức là chúng ta đã quên đi cội nguồn của chính mình. Cây có cội, nước có nguồn, chúng ta thì có cha mẹ, ông bà và tổ tiên, vì thế, ông bà cha mẹ là đấng tối tôn, tối kính đối với con cháu.

Trong kinh Tạp Bảo Tạng Đức Phật dạy rằng: “Nếu có người muốn được vua Phạm Thiên ở trong nhà, hãy hiếu dưỡng cha mẹ, vua Phạm Thiên đã có ở trong nhà. Muốn có Ðế Thích ở trong nhà, hãy hiếu dưỡng cha mẹ, Ðế Thích sẵn ở trong nhà. Muốn được tất cả Thiên thần ở trong nhà, chỉ cúng dường cha mẹ, tất cả Thiên thần đều ở trong nhà. Cho đến muốn cúng dường Thánh Hiền và Phật, chỉ cúng dường cha mẹ, các vị Thánh Hiền và Phật đều ở trong nhà”. Bởi lẽ, ân đức của cha mẹ rất lớn lao, ân tình ngọt ngào của cha mẹ đã trao truyền cho chúng ta là thực tế nhất không thể thiếu trong cuộc đời của mỗi chúng ta.

Các bạn tôn thờ Phật, tức là phải học theo hạnh của Phật, mà muốn thực hiện được công hạnh của Đức Phật, thì các bạn phải giữ gìn tâm hiếu và thực hành hạnh hiếu bởi vì “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”. Thật hạnh phúc cho những ai còn cha mẹ, vì “Cha mẹ tại đường như Phật tại thế”.

Mong rằng, mỗi người chúng ta hãy trân quý cái hạnh phúc mà chúng ta đang còn, tức là Cha và Mẹ vẫn còn bên ta. Chúng ta hãy dâng lên hai đấng sinh thành niềm hạnh phúc ấy bằng “Tâm Phật” và “Hạnh Phật”, đó là cúng dường đấng vô thượng và công đức vô biên.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Hạt Cơm Nặng Như Núi Tu Di

Thời Phật tại thế, trong hàng đệ tử có nhóm Lục quần Tỷ khiêu thường hay khen chê thức ăn do tín thí cúng dàng. Một hôm, vì muốn cảnh tỉnh sáu vị Tỷ khiêu ấy, nhân lúc họ đang đứng trên bờ sông, Phật dạy Tôn giả A Nan đem y cà sa của Ngài ra giặt.

Tôn giả A Nan vâng lời mang cà sa xuống sông. Nhưng kỳ lạ thay, khi bỏ chiếc y xuống nước thì nó không chìm, cứ nổi lên. A Nan tìm đủ mọi cách, thậm chí lấy đá tảng đè lên nhưng cà sa vẫn không chịu chìm. Thấy lạ, Tôn giả A Nan liền hỏi Phật nguyên do. Phật dạy: “Hãy đi lấy hạt cơm còn dính trong bình bát bỏ lên xem sao”.  A Nan liền đi lấy một hạt cơm còn sót lại trong bình bát bỏ lên chiếc y, quả nhiên cà sa từ từ chìm xuống nước.

Nhóm Lục quần Tỷ khiêu vô cùng ngạc nhiên trước hiện tượng lạ lùng này, liền hỏi Phật nguyên nhân. Phật đáp: “Mỗi hạt cơm của tín thí cúng dàng nặng như núi Tu Di. Do đó, nếu thọ nhận của cúng dàng mà không tu hành đắc đạo thì sẽ mang nợ…”.

Từ đó về sau, sáu vị Tỷ khiêu này không còn khen che ngon dở.

                                                                    Phượng Hoàng (Theo Truyện cổ Phật giáo)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Thuở mới đi chùa, tôi thấy lạ là mỗi lần ăn cơm xong, quý thầy không dùng ly uống nước mà rót nước vào chén ăn cơm rồi uống một cách ngon lành. Và chỉ có nhà chùa mới có cách uống nước lạ lùng này thôi, những nơi khác tuyệt nhiên không có. Sau này, tôi mới vỡ lẽ rằng, quý thầy đã thấy “sức nặng” của hạt cơm nên quyết không bỏ sót.

Cuộc sống của người xuất gia, từ thời Thế Tôn cho đến nay, chủ yếu do tín thí cúng dàng. Người tu nguyện làm khất sĩ (ăn xin), không trực tiếp lao động, chỉ xin vật thực để nuôi sống thân mạng, cầu đạo giải thoát và trao truyền lối sống đạo đức cho chúng sinh. Vì thế, trân trọng tài vật cúng dàng, sử dụng đúng pháp là một chuẩn tắc quan trọng không thể chểnh mảng.

Thực tế thì không phải người giàu có dư dả nào cũng biết phát tâm, tu tập hạnh cúng dàng. Trong khi người hiểu đạo, chí thú và tận lực cúng dàng có trường hợp lại là người nghèo, tâm cúng dàng là chính. Với tâm thanh tịnh, thành kính cúng dàng thì tài vật dâng cúng tuy đơn sơ nhưng lòng thành làm cho nó “nặng như núi Tu Di”.

Không phải ngẫu nhiên mà ngọn đèn của bà lão ăn xin tuy yếu ớt (vì không đủ tiền mua nhiều dầu) trong tinh xá Trúc Lâm nhưng gió thổi và cả người dập cũng không tắt. Và không phải vô cớ mà Thế Tôn nhận chiếc khố rách của hai vợ chồng nông phu. Chính vì tấm lòng của họ, “lễ bạc mà lòng thành”.

Để cúng dàng, người Phật tử phải chắt chiu, dành dụm, bớt ăn bớt mặc, có khi phải lên kế hoạch trong một thời gian dài. Do vậy mà tài vật cúng dàng trở nên rất “nặng”, nếu không tu hành thì sự thọ nhận ấy chắc chắn là mang nợ của tín thí, nói gì đến sinh tâm phân biệt, ngon dở, khen chê…

Ngày nay, đời sống kinh tế xã hội phát triển, cuộc sống người tu cũng theo đó mà được cải thiện, có người được xem là “giàu”. Tuy vậy, trong tự tâm của những người tu, luôn quán niệm về hạnh “ăn xin” của mình, quán niệm về phương tiện hành đạo, độ sinh mà buông xả, không phân biệt, không chấp thủ… Vì một hạt cơm thừa mà “nặng” như thế huống gì tiền bạc, xe cộ, nhà cửa, đất đai… sẽ nặng đến mức nào!!!

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Bảy Cái Lò Lửa

Một lần, trong buổi nói chuyện, Thiền sư Phật Ấn bảo Tô Ðông Pha rằng: “Tôi nghe ngài có đến bảy người thiếp, mà tôi lúc này thiếu người hầu hạ, không biết ngài có vui lòng cho tôi mượn một nàng không?”. Ðông Pha cười nói: “Hòa thượng đã muốn, tôi đâu dám chẳng vâng lời”.

Sau khi về đến nhà, Ðông Pha cho gọi thiếp thứ bảy ra bảo: “Hôm nay, Phật Ấn hỏi tôi mượn một hầu thiếp. Vậy nàng hãy sửa soạn để đến chùa cho sớm”. Người thiếp tỏ vẻ không bằng lòng, thưa: “Ông ấy đã tu hành, sao còn nói gở như thế?”. Ðông Pha bảo: “Người quân tử đã hứa, tất phải nhớ lời. Nàng nên vì tôi chịu phiền đi đến xem ông ấy xử sự ra sao?”.

Khi người thiếp đến chùa, Thiền sư Phật Ấn ra đón, đưa vào phòng an nghỉ. Ðoạn, ngài bày bảy cái lò, quạt than cháy đỏ rồi suốt đêm bước qua, bước lại trên những cái lò lửa. Sáng ra, thiền sư bảo phu xe đưa mỹ nhân trở về. Sau khi nghe người thiếp thuật rõ những việc làm của Thiền sư Phật Ấn trong đêm vừa qua, Ðông Pha thầm nghĩ: “Ðây chắc là thiền sư ngụ ý bảo bảy nàng thiếp của ta giống như bảy cái lò lửa. Hành vi bước qua ấy chứng tỏ rằng Ấn lão đã thoát khỏi vòng ái dục rồi, chỉ còn ta mới sa ngã, đắm đuối chăng?”. Nghĩ đến đó, Đông Pha dường như tỉnh ngộ.

                                                                    

Phượng Hoàng – Theo Trung Hoa thiền thoại

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật có dạy: “Nếu như trên đời có hai món vui như dục lạc thì người đời không ai có thể tu hành được”. Biết bao đấng quân vương, anh hùng cái thế trong thiên hạ cũng vì nữ sắc mà thân bại danh liệt. Và người đời dù biết rõ say đắm sắc dục là hiểm họa nhưng mấy ai thức tỉnh để tự kiềm chế mình.

Ở đời thường dùng mỹ nhân để trói buộc anh hùng, Phật Ấn cũng “mượn” vợ bạn để cảnh tỉnh bậc hàn lâm học sĩ. Khen cho Đông Pha dũng cảm, dám đưa vợ cho người khác mượn để “xem ông ấy xử sự ra sao?”. Và cũng vô cùng kính phục Thiền sư Phật Ấn kiên trì thân hành thuyết pháp “bước qua bước lại trên bảy cái lò lửa” suốt đêm đến sáng. Pháp thoại vô ngôn kỳ quặc ấy cuối cùng đã thức tỉnh con người.

Ngày nay khó tìm ra những tri âm, tri kỷ như Phật Ấn – Đông Pha nhưng chuyện của họ hiện đang là vấn nạn, nhức nhối cho nhân loại với vô số hậu quả từ tham lam sắc dục. Căn bệnh AIDS đang hoành hành khắp mọi nơi có nguyên nhân không nhỏ từ những cuộc vui quên cả lối về. Những hiện tượng xuống cấp đạo đức, đánh mất nhân tính như vô luân, xâm hại trẻ vị thành niên ngày nay không còn là chuyện lạ; những cuộc tình tay ba, tay bốn làm tan nát biết bao hạnh phúc gia đình v.v… chung quy không ngoài những cái “lò lửa”.

“Lửa” vốn cần thiết cho đời sống nhưng nó cũng tiềm ẩn hiểm họa thiêu rụi tất cả mọi người. Phải thấy được lòng tham sắc dục là lửa dữ, nếu không cứ cầm đuốc đi ngược gió ắt khó tránh khỏi họa cháy tay. Người học Phật, tuân thủ năm giới cấm, nhất là giới thứ ba (không tà dâm) là phương thức hữu hiệu nhất để gìn giữ sức khỏe và hạnh phúc gia đình.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Kèn Sừng Ốc

Xưa có một quốc gia, hầu hết dân chúng chưa ai thấy qua cái kèn sừng ốc, và tất nhiên cũng chưa nghe âm thanh của nó bao giờ.

Ngày nọ, có một người sành chơi kèn ốc đi qua nước ấy, ông mang kèn sừng ốc ra thổi, âm thanh trầm bổng vang xa. Tất cả mọi người đều bị chấn động, xúm nhau chạy tới để nghe.

Người chơi kèn thổi liền ba bài, xong ông ta đặt vỏ ốc trên đất.

- Cái âm thanh vừa rồi sao mà mượt mà du dương đến vậy? Những người xung quanh xôn xao hỏi.

- Chính là cái vỏ sừng ốc này phát ra đấy mà! Đây là loại vỏ ốc bự có rất nhiều trong biển, nó có thể phát ra âm thanh cực lớn và hay.

Dân làng nghe nói, không nhịn được, chạy tới săm soi vỏ ốc rồi bảo nó:

- Này, mi biết phát ra tiếng, vậy mi có thể nói chuyện với bọn ta không?

Vỏ ốc vẫn im lặng.

- Này, có phải là chủ nhân ngươi bảo ngươi phát ra tiếng thì ngươi mới làm theo không?

Vỏ ốc vẫn “câm như hến”.

Người thổi kèn liền cầm vỏ ốc lên, ghé môi vào, chúm miệng thổi, vỏ ốc liền phát ra âm thanh trầm bổng du dương.

Lúc này dân làng chợt hiểu: Hóa ra âm thanh mê hồn vừa rồi không phải là âm thanh của một mình vỏ ốc mà phải nhờ đến tay, miệng, khí lực và người biết thổi, mới phát ra tiếng được.

(Kể theo Đột phá khổn cảnh của Lâm Thanh Huyền)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Muốn chơi kèn sừng ốc, trước tiên ta phải có một vỏ ốc lành lặn, không sứt mẻ, quan trọng nhất là người chơi kèn có làn hơi mạnh và biết thổi. Không những ta cần bảo quản vỏ ốc cẩn thận, mà còn phải bảo trọng, gìn giữ sức khỏe mình, không để bị cảm lạnh, biết chọn thức ăn có ích cho làn hơi, như vậy mới có thể thổi kèn vang xa.

Nghệ thuật sống của con người cũng như vậy, thân giống như vỏ ốc, tâm giống như người chơi kèn. Trước hết phải chăm sóc, giữ gìn thân thể lành lặn, khỏe mạnh. Muốn bảo dưỡng tinh thần tốt, thì phải khéo tuyển chọn và thu nạp những gì có ích cho tâm linh, giúp tâm sáng suốt, an tĩnh, không bị kích động loạn cuồng… Nghĩa là ta nên xem kinh điển hoặc tiếp xúc với môi trường tốt giúp ta mở mang tâm linh, thăng hoa thần trí. Nếu xem phim, thì chỉ nên xem những phim tươi tắn, có nội dung lành mạnh, nhẹ nhàng, giúp thư giãn, giảm stress. Những phim ảnh bạo động, nội dung xấu sẽ khơi dậy tham sân si, gieo vào tâm thức ta những ảnh hưởng không lành. Nếu nghe nhạc thì không nên nghe những bản nhạc sầu thảm quá độ, vì âm thanh bi lụy sẽ làm tâm tư ta sướt mướt theo… Gìn giữ sự trong sáng cho tinh thần cũng giống như người chơi kèn ốc khéo nuôi dưỡng làn hơi tốt.

Khi thân tâm ta khéo điều chỉnh, hoàn thiện, nghĩa là thân được chăm sóc tốt và tâm được trưởng dưỡng bằng những tố chất thanh khiết, trở nên tỉnh sáng, an lạc… thì lúc ấy ta sẽ cống hiến cho đời những âm điệu du dương, những tiết tấu hay nhất trần đời.

(Hạnh Đoan)

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Tặng Một Vầng Trăng Sáng

Một vị thiền sư ẩn tu trong am tranh trên núi, một hôm nhân buổi tối đi dạo trong rừng, dưới ánh trăng vằng vặc, đột nhiên ngài ngộ ra trí tuệ của mình.

Ngài vui mừng trở về nơi ở, nhìn thấy am tranh của mình bị kẻ cắp lục lọi, kẻ cắp tìm không ra của cải gì, lúc sắp sửa bỏ đi, thì gặp thiền sư ở cổng. Thì ra, sợ kẻ trộm giật mình, thiền sư từ nãy đến giờ cứ đứng đợi ở cổng. Ngài chắc chắn kẻ trộm không tìm được bất cứ đồ đạc gì đáng giá, liền cởi chiếc áo ngoài của mình cầm sẵn trong tay.

Kẻ cắp đang trong lúc kinh ngạc bối rối, thì Thiền sư nói:

- Từ đường rừng núi xa xôi, cậu đến thăm tôi, dù thế nào đi nữa cũng không thể để cậu ra về tay không! Đêm lạnh, cậu hãy mang theo chiếc áo này!

Vừa nói, ngài vừa khoác chiếc áo lên người kẻ cắp. Hắn ta lúng túng không biết làm thế nào, cúi đầu chuồn thẳng.

Nhìn theo bóng kẻ cắp đi dưới ánh trăng vằng vặc, rồi mất hút trong rừng núi, thiền sư không khỏi cảm thương liền khẳng khái thốt lên:

- Hỡi con người đáng thương kia, ta chỉ mong được tặng cậu một vầng trăng sáng.

Sau khi tiễn đưa kẻ cắp bằng mắt, thiền sư đi vào am tranh ngồi thiền, ngài nhìn trăng sáng ngoài cửa sổ rọi vào khoảng không trong nhà.

Hôm sau, dưới sự vuốt ve dịu dàng, ấm áp của ánh trăng, từ trong buồng thiền sâu thẳm, ngài mở mắt ra, nhìn thấy chiếc áo ngoài mà ngài đã khoác lên người kẻ cắp được gấp gọn gàng, tử tế, đặt ở cửa. Vô cùng sung sướng, thiền sư lẩm bẩm nói:

- Cuối cùng ta đã tặng cậu ấy một vầng trăng sáng.

LÂM THANH HUYỀN
(Theo Kinh điển truyện ngắn cực ngắn…)
Người dịch: VŨ CÔNG HOAN

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

“Nhân chi sơ tính bản thiện” nghĩa là bản tính ban sơ của con người vốn là hiền thiện. Theo thời gian con người lớn dần cùng năm tháng, rồi gia đình, học đường, môi trường sống, hoàn cảnh xã hội đã ảnh hưởng rất nhiều để tác thành nhân cách của một con người.

Trong mỗi mỗi chúng ta ai cũng mong hướng đời mình đến những chân trời tươi đẹp sáng sủa và không ai tự chọn cho mình nơi đến là nhà tù ngục tối, là hố thẳm vực sâu. Thế nhưng cuộc đời không như ước muốn nên xã hội có đủ thành phần, nào: giàu sang, nghèo khó, trí thức, bình dân, thất học, trộm cắp, hút xách… Hiện nay xã hội luôn quan tâm đến những tệ nạn như trộm cướp, ma túy, mại dâm… nhưng xã hội đã làm gì nhiều cho họ chưa?

Đối với những thành phần này khi tiếp xúc ta sẽ nhìn họ với ánh mắt nào? Cảm thông chia sẻ hay rẻ rúng khinh khi? Chính thái độ ứng xử của chúng ta là động lực có thể xô đẩy họ xuống hố sâu hay khơi dậy tính thiện lương nơi con người họ.

Trong câu chuyện trên, thiền sư đã nhìn tên trộm với đôi mắt cảm thương, từ ái nên anh chỉ thoáng giật mình khi thấy ngài. Nhưng anh đã đến không đúng chỗ nên chẳng thu được vật gì. Do đó thiền sư đã nhẹ nhàng vỗ vai anh và cởi chiếc áo của mình khoác lên người anh giữa đêm sương lạnh, chiếc áo không là bao mà chứa đựng cả tấm chân tình của người cho và kẻ nhận. Nếu như tên trộm lấy được vật gì quý, hẳn thiền sư sẽ gọi anh lại và bảo anh hãy cám ơn rồi lặng lẽ ra đi. Thiền sư sẽ làm như thế vì ngài muốn anh là người được tặng chứ không mong biến anh thành một kẻ gian. Còn chúng ta thì sao?

Nếu trường hợp như vậy chắc ta không cần tìm hiểu và mau mau tống họ vào tù kèm thêm những lời sỉ mắng. Chúng ta đâu biết chính cách ứng xử đó đã vô tình đẩy họ ngày càng xa với ánh sáng cuộc đời, họ sẽ cảm thấy tủi nhục, oán hận rồi sống bất cần đời vì con người đã gắn vào họ cặp kính màu đen.

Cái nhìn của ta và thiền sư khác nhau xa quá. Nhưng thiền sư cho tên trộm đi không có nghĩa là dung dưỡng hành vi phi pháp của anh mà ngài muốn đánh thức “tính bản thiện” nơi con người anh, “Ta chỉ mong tặng anh một vầng trăng sáng”. Vâng, thiền sư muốn trao anh một vầng trăng sáng tự thuở nào, từ thuở anh chưa sinh ra trăng đã sáng và sáng rạng ngời theo từng bước anh đi, nhưng có lẽ vì miếng cơm, manh áo hay vì gia đình quá bế tắc khốn cùng mà anh không thể thấy trăng soi. Nên ngày ngày anh phải sống lén lút, rình mò với nỗi hồi hộp lo âu trong bóng tối để cuộc đời mình càng tối đen thêm. Và anh đã thật may mắn được gặp vị thiện hữu, người kéo anh lên và dẫn anh qua những khúc quanh ghồ ghề.

Tuy chúng ta chưa chan rải được đại bi tâm như vị thiền sư, nhưng đối với những người bất hạnh hơn ta, ta có thể trao cho họ ánh mắt cảm thông, nụ cười chia sẻ, cái bắt tay thâm tình. Chính những cử chỉ nhỏ đó có thể xoa dịu được nỗi đau của người, làm sống lại niềm tin nơi chính họ đối với cuộc đời này. Chúng ta hãy trải một tấm lòng để đến với mọi tấm lòng. Chúng ta hãy xòe đôi tay nhân ái để được nắm tất cả những đôi tay trong cuộc đời. Có những đôi tay bé bỏng ngây thơ của trẻ em mồ côi khuyết tật, có những đôi tay gầy guộc chỉ còn xương của người già neo đơn, có những đôi tay chai sạm thô ráp của người dân lam lũ với đồng khô nắng cháy và có cả những đôi tay lem luốc đã lỡ nhúng chàm của những tội nhân, con nghiện… Tất cả những đôi tay ấy rất ấm và thấm đẫm tình người.

Chúng ta không khỏi chạnh lòng khi chứng kiến những con người mà xã hội cho là nhân tố xấu cần phải chuyển hóa đã khóc nghẹn ngào khi nghe nhắc đến gia đình, người thân, về một tương lai phía trước. Họ rất khao khát được trở về để sống yên bình bên mái ấm thân thương, họ cố gắng nỗ lực hoàn thiện nhân cách của mình để trở thành một công dân tốt cho xã hội hôm nay. Thế mới biết hạt giống lành luôn sẵn có trong mỗi mỗi chúng sinh. Điều thiết yếu là chúng ta phải biết cách nuôi dưỡng cho hạt nẩy mầm, bón phân cho cây phát triển và bắt sâu không cho ảnh hưởng đến hoa màu, để mai sau cây sẽ dâng cho đời hoa trái tô điểm cuộc sống thêm hương.

Và những gì thiền sư mong ước đã toại lòng vì anh trộm đã được tưới tắm lại hạt giống lành thuở ban sơ. Cũng trên con đường mòn dưới ánh trăng khuya, anh trở lại lều tranh trả chiếc áo cho vị thiền sư với tâm an nhiên thư thái, vừa thưởng gió trời vừa ngắm trăng soi.

Thiền sư và anh, hai người không đối diện nhưng đã cùng mỉm cười khi hướng mắt về vầng trăng!

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Ngoại Hình

Vào thời nhà Tấn, tại đất Trường An, chùa Ngũ Câp, có một người xuất gia tên gọi Đạo An. Ngài xuất gia năm 12 tuổi, bẩm tánh thông minh nhưng ngoại hình rất xấu xí, nên không được sư phụ và chư huynh đệ thương mến. Vì vậy, bao nhiêu việc nặng nhọc trong chùa như cày ruộng, chẻ củi, gánh nước, dọn nhà vệ sinh… Đạo An phải làm hết. Dù làm việc cực nhọc nhưng Đạo An chưa từng than vãn, oán hận mà ngược lại còn rất hoan hỷ, hòa đồng.

Đạo An tùy chúng làm việc cực khổ ngót mấy năm trời. Một hôm, ngài đến đỉnh lễ sư phụ xin được học kinh điển. Sư phụ đưa cho một cuốn kinh dày hơn năm ngàn câu. Ngài cầm lấy, lễ thầy rồi mang theo ra đồng. Sau buổi cày đồng mệt nhọc, ngồi nghỉ luôn tiện đem kinh ra học. Tối đến, ngài đem kinh trả lại và xin được học cuốn khác. Sư phụ rất ngạc nhiên, nhìn thân hình đen đủi xấu xí, nghi ngờ hỏi rằng cuốn kinh hôm nay đã học xong chưa, sao lại xin học cuốn khác?

Ngài trả lời đã thuộc. Sư phụ không tin lắm nhưng vẫn đưa cuốn kinh khác dày hơn, có đến vạn câu. Sáng mang kinh ra đồng, chiều ngài trở về trả kinh, xin được học cuốn khác nữa. Sư phụ bảo đã học được gì, đọc lại cho thầy nghe, ngài liền đọc từ đầu đến cuối không sót một chữ! Sư phụ thất kinh, hết lời tán thán, rồi đem việc ấy ra trước đại chúng trịnh trọng biểu dương.

Từ đó, đại chúng ai nấy đều kính trọng ngài, không dám nhìn dáng vẻ bên ngoài mà vội đánh giá một con người.

(Theo Truy môn tông hạnh lục – Nguyên Hùng dịch)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Ngài Châu Hoằng khi ghi lại sự tích này đã viết thêm mấy lời bình thế này: “Thiên tài như sư Đạo An đáng ra phải để cho chúng ta lễ lạy, có đâu lại bắt đi cày ruộng, cuốc đất, dọn nhà vệ sinh…!

Vậy mà Sư vẫn làm được việc ấy một cách nhiệt tình và hoan hỷ, không một lời oán thán thầy tổ hay phiền trách huynh đệ. Còn như hàng đệ tử ngày nay, mới có được chút xíu năng lực đã đòi ở phòng riêng, có đầy đủ tiện nghi, phương tiện, được ưu tiên mọi công tác trong chùa để có thì giờ gọi là… làm việc, nghiên cứu. Nếu cắt chia công việc cho hoặc có lời nặng nhẹ một tí là muốn bỏ đi nơi khác, trách thầy tổ không biết sử dụng nhân tài, chê đại chúng không biết thông cảm. Nghĩ đến đây, tôi không khỏi bùi ngùi cho mối quan hệ thầy trò thời hiện đại!”.

Dĩ nhiên, khi Đạo An làm tất cả mọi việc trong chùa không phải vì nghĩ rằng mình xấu xí nên đành chấp nhận làm “cu li”, mà ý thức rằng tất cả mọi công việc chấp lao, phục dịch trong chúng đều là công phu tu tập. Công phu càng siêng năng thì phước đức – yếu tố trọng yếu thúc đẩy và duy trì đời sống xuất gia – càng lớn. Bởi không có phước thì khó tu lắm! Và chính nhờ công phu này mà Đạo An có được định tâm, dẫn đến phát sanh trí tuệ, nên kinh sách xem qua một lần là nhớ mãi không quên.

Vả lại, sự tu tập chủ yếu là dụng tâm, chuyển hóa tâm, tu cái tâm, chứ không liên quan gì đến ngoại hình. “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, dù đó là tướng tốt của Như Lai. Đức Phật đã từng cảnh giác, hễ ai nhìn Ngài qua hình tướng, tìm Ngài qua âm thanh, thì người ấy đang thực hành tà đạo, không thể gặp được Ngài. Vậy thì tại sao chúng ta cứ mãi đánh giá, bình phẩm một con người qua dáng vẻ, phẩm trạch, chức tước… bên ngoài? Cần phải biết rằng, mục tiêu của đời sống tu tập đạo đức giải thoát là thực hành và thành tựu giới định tuệ. Những thành công bên ngoài chỉ là phương tiện mà thôi. Chớ nên dính mắc vào hư danh, huyễn sắc và nhất là sanh tâm khinh khi, ngã mạn trước bất kỳ người nào, kể cả những người rất tầm thường.

Đó là thái độ cần có của người học đạo vậy.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Khiêm Cung

Ở  châu Âu, có một cô gái là nghệ sĩ dương cầm. Cô nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt ở tỉnh nhà và cảm thấy rất hứng chí và hãnh diện khi người hâm mộ mình càng lúc càng đông. Năm ấy cô sang Đức du lịch, dĩ nhiên, Khu Bảo tàng di tích của thiên tài dương cầm Beethoven trong khuôn viên Đại học Bonn là điểm viếng thăm quan trọng.

Đến nơi, tuy hòa với dòng người lũ lượt, cô gái tài năng dương cầm điệu nghệ này vẫn thấy mình khác hẳn với những khách du lịch ‘tầm thường’. Cô muốn đi tách riêng ra một chút nhưng rất tiếc, nhân viên bảo tàng không ai biết cô nên hướng dẫn mọi người đi đúng theo tuyến quy định. Nơi đại sảnh của tòa lâu đài uy nghiêm đặt chiếc dương cầm huyền thoại mà chính thiên tài Beethoven thường sử dụng lúc sinh thời.

Chiếc dương cầm cổ điển, lung linh huyền ảo được đặt trên bục biểu diễn trải nhung rất trang trọng. Lòng khao khát tự thể hiện trỗi dậy, không cưỡng nổi cô gái leo lên bục và những nốt nhạc réo rắt, xao xuyến vang lên. Khách tham quan tụ lại, xuýt xoa khen ngợi. Cô gái sung sướng ra mặt, nói “dạ, em cũng biết chơi chút ít” nhưng trong bụng thì khẳng quyết rằng mình có đầy đủ lý do để hãnh diện và tự hào.

Giữa những tràng pháo tay tán thưởng ồn ào, có một người đàn ông đứng tuổi chỉ im lặng trầm ngâm, hình như ông đã ngồi đó, bên cạnh cây đàn tự bao giờ. Một người phụ nữ trong đám đông chợt phát hiện ra ông: “Ồ, đúng rồi! Paderewski, thiên tài âm nhạc Phần Lan”. Cô gái giật mình, không ngờ do một phút tình cờ mà mình lại gặp được nhân vật nổi danh trong thế giới dương cầm này. Cô đánh bạo hỏi tại sao Paderewski lại không chơi thử một đoạn nhạc.

Người nhạc sĩ dương cầm Phần Lan trả lời: Beethoven là bậc thầy dương cầm đúng nghĩa mà tôi luôn tôn thờ. Đối với tài năng của thầy, tôi là một học trò bé nhỏ, làm sao tôi lại dám đụng vào chiếc đàn thiêng liêng đó.

Chợt nhận ra điều gì, cô gái ngượng ngùng bước xuống.

(Theo Danai Chanchaochai)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Có dịp về quê, đi ngang những đồng lúa, chúng ta nhận thấy rằng những bông lúa no tròn, già chín chừng nào thì càng cúi thấp chừng nấy. “Ưỡn ngực ta đây” thì biết chắc đó là những bông lúa còn non, tệ hơn nữa là những bông lúa lép. Quả vậy, thói hợm hĩnh, kiêu ngạo là dấu hiệu của những tài năng chưa đủ độ chín và tâm hồn non kém.

Thật ra trong cuộc sống, có những lúc khiêm cung dường như là điều khó thực hiện. Là người có nghề, nhiều lần thấy người khác đang quờ quạng, trên trán lấm tấm mồ hôi, hì hục làm đúng ‘nghề của chàng’ khiến chúng ta cảm thấy ‘gai mắt, ngứa miệng’ nghĩ rằng nếu mình ra tay thì một thoáng là xong. Trường hợp này, hãy nghĩ ngay đến một tình thế ngược lại, cụ thể như chúng ta đang loay hoay sửa chữa dàn vi tính ‘dở hơi’. Lúc đó đương nhiên chúng ta phải biết ơn đối với sự ‘ra tay’ của một chuyên gia tin học lành nghề.

Tài năng thường có thuộc tính xã hội, cộng đồng. Ai cũng có ít nhiều thiên phú hay tài năng về một khía cạnh nào đó. Tuy nhiên, thiên phú hay tài năng của một người phải nhờ vào sự thán phục và ủng hộ của nhiều người khác mà được rèn luyện, nuôi dưỡng và phát triển. Như vậy, tài năng hay những thành tựu do tài năng đem lại luôn mang tính chất tương duyên, một cá nhân không thể tự có được.

Mặt khác, người có trí thì luôn ý thức được những hạn chế, những chỗ yếu kém của chính mình. Vị hành giả thực tu thường xuyên nhận thấy thực tính là không tính, vô ngã tính nên luôn luôn khiêm cung trong tư tưởng, lời nói và hành động.

Trong đạo lý nhà Phật, biết cúi đầu là thật sự thoát khỏi ngã chấp, giác ngộ tính hư huyễn của các pháp và thực tính vô ngã của chính bản thân mình. Tu tập đạo lý vô ngã hướng đến mục tiêu giải thoát tối hậu bắt đầu bằng thực tập tính khiêm cung. Một khi tính khiêm cung trở nên thuần thục và viên mãn thì hành giả có được niềm vui lớn nhất, sống trọn vẹn nhất trong trạng thái phúc lạc ngay trong kiếp sống này.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Mướp Đắng Và Mạt Cưa

Xưa, có anh trồng nhiều mướp đắng nhưng khi đem bán thường vắng khách. Một hôm, anh nghĩ thầm làm ăn kiểu này chắc thất bại, bèn lấy mướp đắng giả làm dưa chuột, hy vọng có nhiều người mua. Vậy là, trong một phiên chợ chiều, lợi dụng trời nhá nhem tối, anh bày “dưa chuột” ra mời mọc, cốt sao bán được hoặc đổi trao xong là mừng.

Khéo sau lúc ấy, có một bà bán “cám gạo” đi đến. Mụ ấy vốn xưa nay quen thói lọc lừa, lấy mạt cưa rây làm cám gạo, cũng đợi chợ chiều chập choạng, sẽ mập mờ bán buôn, toan đánh tráo hoặc đổi chác được bao nhiêu cũng mừng.

Chàng mướp đắng gặp mụ mạt cưa. Hai bên buong lời mời mọc và cuối cùng mỗi bên đều hí hửng mang về nhà thứ mà mình đổi được. Anh bán mướp đắng nhìn mớ cám gạo không ngớt mừng thầm. Mụ bán mạt cưa không thể giấu nụ cười trên môi khi nhìn rổ dưa. Cả hai đều cảm thấy mình đắc thắng, bước cao bước thấp, hớn hở ra về.

Thế nhưng khi về đến nhà, cả hai mới vỡ lẽ bởi món hàng mình đổi được đều là hàng giả: Cám gạo chỉ là mạt cưa, còn dưa chuột chỉ là một loại mướp đắng chát.

(Theo Truyện dân gian Việt Nam)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Người bán mướp đắng lại có kẻ buôn mạt cưa. Lừa người lại bị lừa ngay. Đó là điều tất nhiên theo định luật nhân quả, một thứ nhân quả nhãn tiền. Gieo nhân nào gặt quả nấy, nếu mình sống dối trá thì sẽ gặp gian xảo. Đạo lý này mới nghe qua rất đơn giản, dễ hiểu nhưng thực ra, nó rất sâu sắc, thâm thuý. Bởi nó có tính phổ quát, bao trùm lên mọi sự vật hiện tượng, có thể giải thích mọi khía cạnh của cuộc sống, và đạo Phật gọi là định luật nhân quả. Giàu sang phú quý hay bần cùng khổ sở, được tin yêu hay bị hất hủi khinh khi, được người hiền lương giúp đỡ hay bị kẻ xấu lường gạt… tất cả đều tuỳ thuộc vào cái nhân mà mình đã gieo, có tu nhân tích đức, có sống hiền thiện hay không.

Biết rõ đã gieo nhân tất phải gặt quả, nên người Phật tử thận trọng trong lời nói, hành động và suy nghĩ sao cho không gây ra khổ đau cho mình và người. Kinh Phật nói “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Người có giác ngộ tỉnh thức luôn xem xét, sợ sệt cái nhân, còn kẻ si mê chỉ biết sợ, hối tiếc khi đã vào tù.

Có điều, nhân quả không phải lúc nào cũng diễn ra hiện tiền trước mắt, mà có khi vài tháng, vài năm, thậm chí vài đời sau nữa. Luật nhân quả Phật giáo phải được xem xét trên ba phương diện quá khứ, hiện tại và tương lai. Do không hiểu điều này (người ta chỉ thấy kẻ làm ác, trốn thuế, hại người… sao mà giàu có; còn người lương thiện, hiền lành sao hay bị ức hiếp, nghèo khổ), nên nhiều người không tin nhân quả. Một khi không tin vào luật nhân quả rồi thì không việc xấu ác nào mà người ta không làm.

Vả chăng, sự thật giữa cuộc đời vẫn có trường hợp hàng giả đổi được hàng thật. Cho nên, bi kịch xảy ra trong phiên chợ chiều kia không phải là mướp đắng đổi được mạt cưa mà chính là mướp đắng đổi được cám gạo hay mạt cưa đổi được dưa chuột. Nói cách khác là hàng giả đổi được hàng thật, hay tiền thật mua trúng hàng giả. Đó mới là bi kịch xảy ra trong nội hàm câu chuyện.

Bi kịch ấy phản ánh một khía cạnh hiện thực của xã hội: hàng giả, bằng giả, tri thức giả… đâu đâu cũng thấy. Tai hại hơn nữa là bằng giả, tri thức giả ấy lại có một địa vị thật trong xã hội. Đó là một sự thật làm đau lòng những nhà lãnh đạo, quản lý, giáo dục chân chính, có lương tâm và trách nhiệm về tương lai của đất nước và dân tộc. Vì một khi cái giả, cái không thật lên ngôi thì hệ quả hình thành nên một xã hội dối trá sẽ rất gần.

Vì vậy, những bài học đạo đức, có tính giáo dục về định luật nhân quả như chuyện “mướp đắng và mạt cưa”, cần phải được đề cao và định hướng cho giáo dục, thì may ra mới tránh được nguy cơ hình thành một xã hội chỉ toan tính lọc lừa.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Thích Thì Phá Chơi

Xưa, có người phát tâm đào một cái giếng ven đường để những ai đi ngang qua đấy đều có thể đến tẩy rửa, uống nước.

Chu đáo hơn, ông xây một bồn chứa nước cạnh đó và còn đặt bên cạnh chiếc bình sứ đẹp có quai cho khách tiện múc nước dùng. Ai cũng cảm kích lòng tốt của ông và trầm trồ khen cái bình đẹp.

Một tối nọ, có bầy hồ ly chạy ngang qua. Thấy giếng, chúng chạy đến thám thính. Vua hồ ly nói:

- Thật là tuyệt khi có cái bình để cho ta nghịch chơi!

Thế là hồ ly đút đầu vào bình múa may. Nghịch chán nó rút đầu ra, do gặp khó khăn, nó đập vỡ bình mới thoát thân được. Một phần bình vỡ còn nằm trên đầu hồ ly chưa rơi xuống, nó đắc chí cười to, bảo đồng bọn:

- Các ngươi xem, mảnh vỡ bình dính trên đầu ta giống hệt cái vương miện!

Mấy con hồ ly kia khuyên nó:

- Đại vương! Cái bình này là đồ dùng công cộng, lẽ ra không nên đập vỡ!

Hồ ly bảo:

- Ta rất thích trò đùa mới này, chỉ cần ta vui là được, có gì là không nên?
Khi khách đến giếng, phát hiện bình vỡ, liền mách chủ giếng:

- Bình của anh bị vỡ rồi!

Chủ giếng bèn đặt cái bình mới vào thay thế. Nhưng vài ngày sau, lại bị hồ ly chúa đập vỡ nữa. Mặc dù các con hồ ly khác đều khuyên nó không nên làm vậy nhưng nó không nghe, còn khoe:

- Ta sẽ trở thành vị vua có nhiều vương miện nhất trong lịch sử, tính đến giờ thì ta đã đập được mười bốn cái bình rồi! Thích thì ta đập chơi, có gì mà không nên?

Chủ giếng rất phiền bực vì bình bị vỡ hoài, ông nghĩ thầm: “Rốt cuộc thì ai phá? Phải điều tra mới được!”.

Kín đáo theo dõi, ông phát hiện ra hồ ly chúa phá bình.

Ông liền làm một cái bình gỗ thật chắc, kích cỡ giống y như bình sành, đặt cạnh giếng rồi núp vào gốc cây để xem.

Như lệ cũ, đêm đến, bầy hồ ly chạy ra giếng uống nước, hồ ly chúa nói:

- Tốt quá! Ta lại có thêm vương miện nữa rồi! Nói xong nó chui đầu vào bình đùa nghịch và hô lên:

-Ta thích thì phá chơi, có gì mà không được?

Rồi nó giở mửng cũ, đập vỡ bình, rút đầu ra!

Lần này bình không vỡ và cũng không thể rút đầu ra.

Lúc đó chủ giếng cầm roi chạy tới, bầy hồ ly thấy động, chạy trốn hết. Chỉ có hồ ly chúa bị kẹt lại, lãnh một trận đòn nên thân.

(Kể theo “Nhân sinh phương hướng” của Lâm Thanh Huyền)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Có một thời, những người mướn truyện, đọc đến chỗ hay, gay cấn thì gặp phải cảnh không đọc tiếp được vì tờ kế đã bị xé. Họ tức tối nguyền rủa người đã xé những trang hay ấy. Sau đó, đọc đến những trang gay cấn, hấp dẫn họ cũng xé đi, để trả thù… với gương mặt cực kỳ hả hê. Họ cho rằng mình bỏ tiền ra mướn truyện nên có quyền xé và phá hoại.

Rồi những phương tiện, vật dụng công cộng, người ta không phải bỏ tiền ra nhưng vẫn được dùng cũng bị phá hoại không thương tiếc.

Hồ ly chúa phá vỡ bình phục vụ công cộng, có thể cho rằng nó là con thú không biết nghĩ suy. Nhưng tiếc thay, trong đời vẫn có những người hành động chẳng khác hồ ly, không ý thức giữ gìn, thậm chí phá hư các phương tiện công cộng, xem đó như trò đùa nghịch thú vị cốt để giải khuây, không hề nghĩ đến tấm lòng của người đã bỏ của bỏ công ra phục vụ, phụng hiến…

Các băng ghế công viên, trạm xe, phi trường và nhà vệ sinh công cộng… tất cả được dùng để phục vụ người dân. Song một số người chẳng bao giờ nghĩ đến lòng tốt và thiện ý của người lập ra nó để chung sức giữ gìn, xài cho đúng cách và thể hiện sự trân trọng những đồ dùng công cộng ấy thay cho lòng tri ân. Vì nếu không có những vật dụng, những phương tiện phục vụ ấy ta sẽ chẳng hưởng được sự thoải mái, tiện ích.

Những băng ghế công cộng thường được leo trèo, giẫm đạp, bôi bẩn không thương tiếc. Những vòi nước sau khi xài xong không buồn khóa lại, mặc nhiên để nước chảy suốt. Đáng buồn là người sử dụng đã ở tuổi trưởng thành, thậm chí ở tuổi trung niên chứ không phải là những em bé đi chập chững, chưa biết gì…

Ngày nào còn cảnh phá hoại đồ công, còn những kiểu xài bất cẩn vô ý thức như vậy thì chúng ta chẳng thể nào xây dựng nên một xã hội phồn vinh, văn minh, lịch sự… cho dù chúng ta thích được khen ngợi đất nước mình là tân tiến, văn minh. Nếu không bỏ công, của, vật dụng để phục vụ lợi ích cộng đồng thì chúng ta cũng nên đóng góp vào đó sự giữ gìn, trân trọng… để đồ dùng được bền, đẹp, sạch hơn. Như vậy là chúng ta đã góp phần xây dựng xã hội và làm đẹp thêm nhân cách người dân trên đất nước mình.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Buông Tay Để Sống

Xưa, có một người thường đi làm ăn xa, phải lội suối, trèo non nhưng không nề khổ nhọc. Lần nọ, băng qua vách núi cheo leo rất nguy hiểm, anh sơ ý trượt chân té xuống vực sâu. Trong cơn nguy biến, anh đưa hai tay quơ quào giữa không trung, may sao chụp được một rễ cây lòng thòng bên vách núi. Thoát chết nhưng khổ nỗi người anh cứ treo lơ lửng ở lưng chừng núi, không thể lên hay xuống.

Trong khi sự sống như ngàn cân treo đầu sợi tóc, không biết tính sao, chợt thấy Đức Phật đứng bên sườn núi nhìn qua. Gặp được cứu tinh, anh vội vàng kêu:

- Đức Phật ơi! Xin Ngài từ bi cứu con với!

Đức Phật từ tốn bảo:

- Ta sẵn sàng cứu ngươi nhưng ngươi phải vâng lời, Ta mới cứu được.

- Bạch Ngài, đến nước này thì con đâu dám không vâng lời. Ngài nói cái gì con cũng làm cả.

- Tốt lắm! Vậy thì ngươi hãy buông tay đang nắm rễ cây ra đi.

Anh ta nghe xong liền nghĩ, nếu buông tay ra chắc chắn sẽ rớt xuống vực sâu, tan xương nát thịt, làm sao bảo toàn được sinh mạng? Vì thế, anh càng nắm chặt rễ cây hơn.

Phật bảo:

- Ngươi không chịu buông tay, làm sao Ta cứu được?

Thế nhưng anh ta vẫn nắm chặt cành cây. Thấy vậy, Đức Phật đành bỏ đi.

(Kể theo Tinh Vân thiền thoại)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Bạn có nghĩ rằng, mình cũng đang bám víu vào một sợi dây gì đó để sống không? Buông sợi dây đó ra mình sẽ chết hoặc sống gần như chết. Thực ra, chúng ta không chỉ đang bám vào một sợi dây mà nhiều sợi lắm và nghĩ rằng sợi dây nào cũng quan trọng đối với cuộc đời của mình, quan trọng đến nỗi mình bỏ cả cuộc đời để đeo đuổi, tìm kiếm. Đó là những sợi dây tài, sắc, danh, thực, thùy; sợi dây luyến ái, chấp thủ cái tôi và cái của tôi.

Người ta sẽ không thể nào tưởng tượng nổi, làm sao thế giới này có thể tồn tại khi mọi thứ đều Không, vô ngã. Cũng như anh chàng kia làm sao dám buông tay ra khi sự sống còn mong manh của đời mình đang treo lơ lửng trên sợi dây như ngàn cân treo đầu sợi tóc. Cho nên, tất cả đều cố bám lấy những sợi dây đời để sống và không tin rằng sự sống sẽ tồn tại nếu buông các sợi dây ấy ra. Vậy mà Đức Phật khẳng định, cứ buông tay ra đi, không những anh được cứu thoát sự nguy khốn mà còn có được cuộc sống mới tươi đẹp hơn nhiều.

Mười phương ba đời chư Phật đều có tướng lưỡi rộng dài. Đó là biểu hiện của sự thành tựu công đức không nói lời hư dối. Chư Phật nào dối gạt chúng sanh? Bảo anh buông tay ra, buông những sợi dây “ngã tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng” ra đi, thì chắc chắn được cứu sống, được giải thoát ngay liền. Anh không buông ra thì bị trói buộc, không phải Đức Phật không cứu mà tự anh không muốn được giải thoát.

Cho nên, muốn giải thoát là phải dám “chết” một lần, nhà Thiền gọi là dám buông mình xuống vực sâu trăm trượng. Một lần chết là một phen quyết hạ thủ công phu. Buông mình xuống vực sâu trăm trượng chính là buông bỏ tất cả những danh văn, lợi dưỡng, những trói buộc của ngũ dục, lục trần và tự ngã; “thõng tay vào chợ” như ý nghĩa đích thực của người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không có gia đình, không có vật sở hữu.

Phải dám một lần buông bỏ thì mình mới thật sự sống. Bấy lâu nay mình cứ tưởng những công việc, địa vị, tiền tài, danh vọng… là nền tảng của cuộc sống. Nào ngờ tất cả chúng đều là những sợi dây đang trói buộc cuộc đời mình, làm cho mình khổ, khổ như nỗi khổ của anh chàng bị treo lơ lửng trên vách núi kia. Buông tay ra khỏi những sợi dây ngũ dục ấy, ắt sẽ được giải thoát, được thảnh thơi, tự do và an lạc. Hãy thử một lần đi!

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment