Buông Tay Để Sống

Xưa, có một người thường đi làm ăn xa, phải lội suối, trèo non nhưng không nề khổ nhọc. Lần nọ, băng qua vách núi cheo leo rất nguy hiểm, anh sơ ý trượt chân té xuống vực sâu. Trong cơn nguy biến, anh đưa hai tay quơ quào giữa không trung, may sao chụp được một rễ cây lòng thòng bên vách núi. Thoát chết nhưng khổ nỗi người anh cứ treo lơ lửng ở lưng chừng núi, không thể lên hay xuống.

Trong khi sự sống như ngàn cân treo đầu sợi tóc, không biết tính sao, chợt thấy Đức Phật đứng bên sườn núi nhìn qua. Gặp được cứu tinh, anh vội vàng kêu:

- Đức Phật ơi! Xin Ngài từ bi cứu con với!

Đức Phật từ tốn bảo:

- Ta sẵn sàng cứu ngươi nhưng ngươi phải vâng lời, Ta mới cứu được.

- Bạch Ngài, đến nước này thì con đâu dám không vâng lời. Ngài nói cái gì con cũng làm cả.

- Tốt lắm! Vậy thì ngươi hãy buông tay đang nắm rễ cây ra đi.

Anh ta nghe xong liền nghĩ, nếu buông tay ra chắc chắn sẽ rớt xuống vực sâu, tan xương nát thịt, làm sao bảo toàn được sinh mạng? Vì thế, anh càng nắm chặt rễ cây hơn.

Phật bảo:

- Ngươi không chịu buông tay, làm sao Ta cứu được?

Thế nhưng anh ta vẫn nắm chặt cành cây. Thấy vậy, Đức Phật đành bỏ đi.

(Kể theo Tinh Vân thiền thoại)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Bạn có nghĩ rằng, mình cũng đang bám víu vào một sợi dây gì đó để sống không? Buông sợi dây đó ra mình sẽ chết hoặc sống gần như chết. Thực ra, chúng ta không chỉ đang bám vào một sợi dây mà nhiều sợi lắm và nghĩ rằng sợi dây nào cũng quan trọng đối với cuộc đời của mình, quan trọng đến nỗi mình bỏ cả cuộc đời để đeo đuổi, tìm kiếm. Đó là những sợi dây tài, sắc, danh, thực, thùy; sợi dây luyến ái, chấp thủ cái tôi và cái của tôi.

Người ta sẽ không thể nào tưởng tượng nổi, làm sao thế giới này có thể tồn tại khi mọi thứ đều Không, vô ngã. Cũng như anh chàng kia làm sao dám buông tay ra khi sự sống còn mong manh của đời mình đang treo lơ lửng trên sợi dây như ngàn cân treo đầu sợi tóc. Cho nên, tất cả đều cố bám lấy những sợi dây đời để sống và không tin rằng sự sống sẽ tồn tại nếu buông các sợi dây ấy ra. Vậy mà Đức Phật khẳng định, cứ buông tay ra đi, không những anh được cứu thoát sự nguy khốn mà còn có được cuộc sống mới tươi đẹp hơn nhiều.

Mười phương ba đời chư Phật đều có tướng lưỡi rộng dài. Đó là biểu hiện của sự thành tựu công đức không nói lời hư dối. Chư Phật nào dối gạt chúng sanh? Bảo anh buông tay ra, buông những sợi dây “ngã tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng” ra đi, thì chắc chắn được cứu sống, được giải thoát ngay liền. Anh không buông ra thì bị trói buộc, không phải Đức Phật không cứu mà tự anh không muốn được giải thoát.

Cho nên, muốn giải thoát là phải dám “chết” một lần, nhà Thiền gọi là dám buông mình xuống vực sâu trăm trượng. Một lần chết là một phen quyết hạ thủ công phu. Buông mình xuống vực sâu trăm trượng chính là buông bỏ tất cả những danh văn, lợi dưỡng, những trói buộc của ngũ dục, lục trần và tự ngã; “thõng tay vào chợ” như ý nghĩa đích thực của người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không có gia đình, không có vật sở hữu.

Phải dám một lần buông bỏ thì mình mới thật sự sống. Bấy lâu nay mình cứ tưởng những công việc, địa vị, tiền tài, danh vọng… là nền tảng của cuộc sống. Nào ngờ tất cả chúng đều là những sợi dây đang trói buộc cuộc đời mình, làm cho mình khổ, khổ như nỗi khổ của anh chàng bị treo lơ lửng trên vách núi kia. Buông tay ra khỏi những sợi dây ngũ dục ấy, ắt sẽ được giải thoát, được thảnh thơi, tự do và an lạc. Hãy thử một lần đi!

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Đồng Tiền Với Mạng Người

Ngày xưa, tại nước Tu Hoà Đa, có vị quốc vương tên Tát Đa Phù. Một hôm, vua ra ngoài đi săn, tình cờ gặp một tháp Phật, bèn lấy ra năm xu cúng dường. Lúc đó, có một người đi ngang qua trông thấy bèn vỗ tay ca ngợi:

- Lành thay! Lành thay!

Vua nghe khen chẳng những không vui mà còn giận dữ, hạ lệnh bắt hắn.

Nhà vua nghiêm khắc hỏi anh chàng cắc cớ thốt lời khen ngợi kia:

- Này, có phải là ngươi thấy ta chỉ bố thí có năm xu nên vỗ tay cười mỉa hay là vì một nguyên do gì khác?

Anh ta trả lời:

- Nếu bệ hạ hứa tha chết, thì kẻ hèn này mới dám nói.

Nhà vua hứa:

- Được rồi, những điều ngươi nói ra hôm nay ta đều miễn tội chết.

Anh ta liền vập đầu lạy tạ, rồi bắt đầu kể:

- Mấy năm trước đây, tôi là một tên cướp dữ dằn. Một lần nọ, tôi chặn đường một người, bắt hắn phải giao nộp tất cả của cải. Nạn nhân ngoài túi hành lý quần áo ra chẳng có gì cả, nhưng chẳng hiểu sao bàn tay hắn cứ nắm chặt. Tôi nghĩ, trong tay hắn chắc hẳn phải có gì quý giá lắm đây nên không chịu buông ra. Tôi bèn đe doạ, hết bằng lời đến dùng dao kề cổ uy hiếp, vậy mà hắn vẫn không chịu khuất phục. Cuối cùng tôi đành đánh hắn đến bất tỉnh. Nhưng khi lật tay hắn ra, chỉ vỏn vẹn một đồng tiền nhỏ. Tôi cảm thấy hết sức thất vọng và khó hiểu. Tại sao lại có người thà bị đánh đến chết ngất, có thể mất mạng chứ không chịu mất của, nhất là khi chỉ có một đồng xu? Nếu vậy quả cuộc đời thật đáng buồn…

Sau đó tôi từ bỏ nghề cướp và mỗi lần thấy ai bố thí, bất luận sang hèn tôi đều ngợi ca. Vì dù sao thì người ấy cũng không quá coi trọng đồng tiền, đó là con người có trí tuệ vậy.

Vua nghe thế, tha tội chết cho hắn.

(Kể theo Đại Trang Nghiêm kinh luận, quyển 6)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Tiền bạc, tài sản là do mồ hôi nước mắt của bản thân mình làm ra, cho nên ai cũng trân trọng, giữ gìn, nhất là những người dân chân lấm tay bùn, làm thuê cuốc mướn để có cái ăn, cái mặc, đồng tiền đối với họ thật là đáng quý. Trừ những kẻ dư dật, thừa mứa hoặc có nguồn thu phi pháp, không cần phải đổ mồ hôi nước mắt, công sức và trí tuệ thì mới “ném tiền qua cửa sổ” không tiếc.

Tuy vậy, tiền của không phải là tất cả. Nó không thể tạo ra mạng sống! Cho nên, tham tiền của mà đến nỗi phải mất mạng là một điều hết sức phi lý, đạo Phật gọi là vô minh. Trong cuộc sống, chúng ta vẫn thấy có những trường hợp con người ta vì tiền mà bất chấp đạo lý, không kể cha mẹ, anh em, bạn bè, người thân, coi thường kỷ cương phép nước … đến nỗi đánh mất nhân tính, trở thành kẻ sát nhân, rơi vào vòng tù tội.

Làm ra được đồng tiền là khó, mà xả bỏ đồng tiền đó, cho dù chỉ là đồng xu cắc bạc, lại càng khó hơn! Cho nên, đối với những người dám bỏ của cải vật chất và tiền bạc ra làm việc từ thiện, bố thí, cúng dường, phải nói là người cao thượng, đáng được biểu dương, tán thán.

Đạo Phật có sáu phương cách để đi đến bến bờ giải thoát, Niết bàn (Lục độ Ba la mật) thì bố thí đứng đầu: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Trong bốn pháp thu nhiếp lòng người (Tứ nhiếp pháp), bố thí cũng đứng đầu: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Để đạt được giác ngộ giải thoát, hành giả không những chỉ bố thí tài sản vật chất mà còn bố thí cả công sức, trí tuệ và thậm chí cả thân mạng mình nữa.

Bố thí là cái nhân cắt đứt sự nghèo khổ, thiếu thốn, bần cùng. Khi một người biết bố thí, cúng dường thanh tịnh, là dấu hiệu cho thấy người đó đã bắt đầu biết xả kỷ, vị tha, hướng đến vô ngã, vô ngã sở và có sự tiến triển trên con đường đi đến bến bờ hạnh phúc. Vì thế, Phật giáo luôn khuyến khích người Phật tử xây dựng cuộc sống bằng nghề nghiệp chân chánh, đồng thời giáo dục cho mọi người biết sử dụng thành quả lao động của mình có lợi ích cho bản thân và xã hội, nhất là tâm thí xả, sống vì mọi người, luôn mở rộng bàn tay, thương nghèo, cứu khó.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Cho Và Nhận

Xưa, ở làng nọ có một ông lão rất nghèo,  sống nhân đức, thấu hiểu nhân tình thế thái. Một hôm tuyết lớn, ông đến nhà phú hộ trong làng vay tiền. Gặp may hôm đó phú hộ đang vui, sai người nhà lấy đưa cho ông hai đồng bạc trắng, lại còn bảo: “Cầm lấy mà tiêu! Không cần trả lại!”.

Cụ mừng quá, cám ơn ông phú hộ rồi vội vội vàng vàng đút tiền vào túi đi về nhà. Phú hộ còn nói với theo: “Không cần trả!”. Sáng hôm sau, ông phú hộ mở cửa ra thấy ai đã quét hết tuyết trước sân, sau nhà và cả trên mái nhà. Phú hộ hỏi ra mới biết ông lão đã quét tuyết, chợt hiểu rằng, bố thí cho người ta đồng bạc, vô tình biến người ta thành kẻ làm công. Phú hộ tìm đến nhà ông lão, biểu ông viết giấy nợ hai đồng bạc để giữ thể diện cho ông. Đặc biệt tờ giấy nợ không ghi thời gian trả nợ.

                                                               (Theo Ba mươi sáu kế nhân hòa)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Giúp đỡ người khác là gieo phúc, tích lũy điều thiện. Thể hiện tấm lòng khoan dung nhân ái và phóng khoáng hào sảng không gì bằng sự giúp đỡ người khác. Con người là loài hữu tình, chẳng ai thấy cảnh hoạn nạn, đói nghèo, khốn khó mà không khỏi động lòng. Nhưng nếu có lòng tốt đem chút tiền bạc vật chất ra giúp người thì cũng phải biết cách khiến người nhận lẫn người cho cảm thấy nhẹ nhàng, hoan hỷ.

Ngạn ngữ có câu: “Cách cho quý hơn của cho”. Khi giúp người, đừng để họ cảm thấy là mắc nợ ta. Người cho nên vui vẻ, tự nguyện, hành động một cách hoàn toàn tự nhiên, người được giúp dù không cảm nhận được ngay nhưng dần dần về sau sẽ thấu hiểu. Ai cũng muốn có thể diện, cho dù là một kẻ ăn xin, hãy giữ cho người ta một chút thể diện thì coi như đã tặng họ món quà quý giá nhất. Trên bến xe, quán ăn, chúng ta thường bắt gặp những hình ảnh rất đẹp, hồn nhiên vô tư của những cô bé, cậu bé cầm tiền bằng cả hai tay, cúi đầu kính cẩn trao cho những người hành khất đói nghèo bằng câu nói vỗ về an ủi làm ấm lòng người khốn khổ: “Dạ! cháu xin gởi ông ạ!”, hoặc “cháu chỉ có chút đỉnh này thôi! Xin gởi ông ạ!”.

Trong những buổi quyên góp giúp đồng bào bị thiên tai, hoạn nạn, ta có thể thấy được trên khuôn mặt mọi người biểu lộ tình thương yêu đồng loại với sự cảm thông sâu sắc sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ như là một bổn phận tràn đầy ý thức trách nhiệm tương thân tương ái cộng đồng. Mỗi thời khắc đi qua có biết bao biến động, tai nạn sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ chưa khắc phục xong thì những cơn bão kèm theo mưa lũ liên tục tàn phá các tỉnh miền Trung…

Cuộc sống chưa ai dám chắc điều gì, hôm nay chúng ta đang sống bình an, hạnh phúc còn ngày mai chúng ta chưa biết sẽ ra sao? Bước thăng phải có bước trầm, như những nốt nhạc trong bản giao hưởng Niềm vui của Beethoven, làm cho cuộc sống thêm thi vị và bản nhạc trở thành bất hủ. Chúng ta hãy hát lên: cho và nhận. Hãy vui lòng cho đi! Hãy vui lòng nhận đi! Hôm nay chúng ta là người cho, nhưng biết đâu ngày mai chúng ta sẽ là người nhận. Có gì quan trọng đâu, dù ở vị trí nào, xin hãy nắm lấy tay nhau, nối vòng tay đệ huynh nhân ái. Khổ đau sẽ vơi đi, hạnh phúc luôn có mặt bên người cho và người nhận.

Câu chuyện cho chúng ta thấy rằng, không phải hễ có điều kiện sung túc, có chút dư dả là cứ bố thí, ban ân mà không cần để ý đến người được giúp. Họ là những người thiếu may mắn trong cuộc đời, rất cần được giúp đỡ tiền bạc, miếng cơm, manh áo… nhưng họ cũng rất cần nương tựa về mặt tinh thần, đó là sự cảm thông, an ủi và quan trọng  nhất là sự quý trọng của mọi người. Chúng ta khi giúp đỡ ai đó cần phải thành khẩn, thương yêu, bình đẳng để mang lại sự cao quý cho cả người cho và người nhận.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Đười Ươi Uống Rượu

Đức Phật từng dạy: “Không nên tin vào ý mình” kẻo bị ý mình lừa gạt, phải luôn chính niệm tỉnh giác, ý thức rõ việc mình làm và hậu quả của nó để không mắc phải sai lầm đáng tiếc.

Truyền thuyết kể rằng, thuở xưa ở đất Tứ Xuyên (Trung Quốc) có một loài đười ươi trông giống như người. Chúng quý hiếm vì biết cười nói, đặc biệt máu của chúng dùng nhuộm tơ lụa, do đó các thợ săn thường hay tìm bắt.

Đười ươi vốn thích uống rượu, nắm được yếu điểm này nên các thợ săn dùng rượu ngon để nhử bắt. Nhiều lần bị mắc bẫy nên những con đười ươi thoát nạn, biết cảnh giác, thấy những hũ rượu thơm ngon bày la liệt ở ngoài đồng trống nhưng không dám đến gần. Bầy đười ươi lẩm bẩm nguyền rủa những kẻ giăng bẫy hại chúng và bảo nhau chớ có bị mắc lừa.

Nhưng rồi mùi rượu thơm phưng phức khiến chúng phát thèm, quay lưng đi mà như có dây níu lại. Không kềm chế được, chúng nói với nhau: “Rượu thơm ngon quá, chúng ta thử nếm một tí thôi, chắc không hại gì. Một chút rượu không làm chúng ta say được”. Thế là đười ươi bắt đầu thận trọng chấm mút rượu trong thùng.

Thấy rượu ngon quá, chúng lại nghĩ: “Thưởng thức thêm một chút nữa cũng không sao”, rồi tiếp tục chấm mút lần thứ hai, thứ ba… Càng nếm càng thấy thích nên cứ nếm mãi rồi bưng luôn cả thùng mà uống. Rượu vào, đười ươi say chuếnh choáng, đầu óc mịt mờ, đi đứng loạng choạng.

Chỉ chờ có thế, thợ săn từ chỗ núp chạy ra vây bắt. Bầy đười ươi lảo đảo bỏ chạy nhưng không con nào thoát thân.

                                              (Theo Truyện cổ Phật giáo)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Đức Phật từng dạy: “Không nên tin vào ý mình” kẻo bị ý mình lừa gạt, phải luôn chính niệm tỉnh giác, ý thức rõ việc mình làm và hậu quả của nó để không mắc phải sai lầm đáng tiếc.

Rượu chè, cờ bạc, ma túy… là các thú vui làm băng hoại thể xác và tinh thần. Ai cũng hiểu ma lực của chúng, biết rõ sự nguy hại nhưng không ít người vẫn vướng vào, dễ dàng bị lạc thú mê hoặc, lôi kéo và dẫn dắt đến chỗ sa đọa, tự hủy diệt mình.

Con người thường quá tin vào ý của mình, chủ quan, khinh suất, xem thường mọi việc, để rồi đến lúc hối hận thì đã muộn. Một khi trong lòng đầy dẫy những tham muốn, thì con người dễ dàng bị những đối tượng của dục vọng như tiền tài, sắc đẹp, ăn uống, ngủ nghỉ, danh vọng v.v… lôi kéo, mê hoặc. Chúng ta cứ nghĩ là có thể làm chủ được bản thân, không dễ dàng bị những thứ ấy sai khiến, trói buộc hay làm hại. Chẳng hạn như có người khi chưa nghiện ma túy, cứ nghĩ rằng chỉ thử qua một lần cho biết, rồi thôi. Họ đâu ngờ ma túy có ma lực lôi cuốn, hấp dẫn khiến họ không thể từ bỏ và trở thành nô lệ cho nó.

Đôi khi người ta vẫn ý thức được tác hại của việc mình làm nhưng vì người ta quá tin vào khả năng của mình. Ví dụ như những kẻ đầu trộm đuôi cướp, ít khi họ nghĩ rằng rồi đây sẽ bị bắt, họ luôn tin tưởng rằng có thể chạy trốn, lẩn tránh khỏi sự truy bắt và trừng trị. Có khi người ta, vẫn biết tác hại của một việc nào đó nhưng vẫn làm, bởi vì việc đó thỏa mãn đam mê và khát vọng của họ. Chẳng hạn như người ta biết rất rõ tác hại của thuốc lá, lời khuyến cáo trên bao bì mỗi gói thuốc là “Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe”, nhưng họ vẫn sản xuất thuốc lá, vẫn hút thuốc lá. Bởi vì người sản xuất thì chạy theo lợi nhuận, người tiêu thụ thì được thỏa mãn sở thích và những cơn ghiền.

Chuyện bầy đười ươi không dằn lòng trước sự cám dỗ của rượu ngon dẫn đến hậu quả rơi vào tay thợ săn, mất mạng âu cũng là một bài học cho những ai còn chủ quan, không tự kiềm chế, chuyển hóa những lạc thú, đam mê.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Ăn Uống Tiết Độ

Ăn uống quá độ là nguồn gốc của béo phì, tăng tốc lão hóa và tác động đến sức khỏe. Ăn uống vừa đủ, có chừng mực, trong chánh niệm sẽ giúp chúng ta tránh được điều đó.

Câu chuyện này xảy ra khi Đức Phật ngụ tại tinh xá Kỳ viên (Jetavana), thành Xá-vệ (Sàvatthi), liên quan đến vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) của vương quốc Kosala, được ghi lại trong bài kinh Đại thực (Tương ưng bộ, 3.13) và Chú giải kinh Pháp cú (kệ 204).

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi có thói quen ăn uống vô độ, với các bữa ăn thịnh soạn. Một ngày nọ, sau khi ăn xong, no đủ, thỏa thích, đi đến gặp Thế Tôn. Sau khi đến, nhà vua đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

Đức Thế Tôn biết vua Pasenadi đã ăn xong, no đủ, thỏa thích, Ngài hỏi vua:

- Ðại vương, đến đây mà chưa ngủ nghỉ ư?

- Bạch Thế Tôn, không phải như vậy, nhưng con luôn luôn cảm thấy khó chịu, khổ sở sau khi ăn xong.

- Này Ðại vương! Ăn uống quá độ thường mang lại sự khổ nhọc.

Đức Thế Tôn nói kệ:

Người ưa ngủ, ăn lớn,
Nằm lăn lóc qua lại,
Chẳng khác heo no bụng,
Kẻ ngu nhập thai mãi.

Đức Phật dạy tiếp:

- Ðại vương, cần phải giữ tiết độ khi ăn uống. Đó là điều tốt.

Ngài nói tiếp câu kệ:

Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài.

Vua Pasenadi nước Kosala gọi vương tử Sudassana (Tu-đà-na), cháu của nhà vua và cũng là người hầu cận, và bảo:

- Này ông, hãy ghi nhớ bài kệ của Đức Thế Tôn. Từ nay, mỗi khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy.

- Thưa vâng, Ðại vương.

Vương tử Sudassana vâng đáp vua Pasenadi, học thuộc lòng bài kệ này từ Đức Phật, và mỗi khi dọn cơm cho nhà vua, đọc lên bài kệ này:

“Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài.”

Nhờ được nhắc nhở, vua Pasenadi tuần tự hạn chế sự ăn uống, cho đến khi chỉ ăn nhiều nhất là một nàlika (một chén cơm).

Sau một thời gian, thân thể nhà vua được khỏe mạnh, nhà vua tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng sau đây: “Ôi, Đức Thế Tôn thật sự thương tưởng, nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!”

Theo Chú giải kinh Pháp Cú, sau đó, vua Pasenadi đến bạch Đức Phật, và được Ngài dạy:

- Sức khỏe là hạnh phúc lớn nhất mà mọi người mong muốn. Bằng lòng với những gì hiện có là giàu có nhất. Trung tín là điều tốt nhất khi giao hảo. Nhưng không có hạnh phúc nào có thể so sánh với Niết-bàn.

Đó là duyên sự của câu kệ 204 trong kinh Pháp Cú:

Không bệnh, lợi tối thượng,
Biết đủ, tiền tối thượng.
Thành tín đối với nhau,
Là bà con tối thượng.
Niết-bàn, lạc tối thượng
(bản dịch của Hòa thượng Minh Châu)

Tỳ khưu Giới Đức dịch:

Không bệnh, lợi ích xiết bao!
Sống đời biết đủ, khác nào được châu!
Tín thành: quyến thuộc hàng đầu
Niềm vui tịch tịnh, nhiệm mầu chí tôn!

Cư sĩ Tâm Minh Ngô Tằng Giao dịch:

Ai không bệnh, lợi nhất đời
Ai mà biết đủ là người giàu sang
Ai thành tín là bạn vàng
Và nơi cực lạc: Niết Bàn là đây.

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Đây là lời khuyên quý báu của Đức Phật cho tất cả chúng ta, nhất là trong thời đại ngày nay, khi bệnh béo phì trở thành một vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe. Ăn uống quá độ là nguồn gốc của béo phì, tăng tốc lão hóa và tác động đến sức khỏe. Ăn uống vừa đủ, có chừng mực, trong chánh niệm sẽ giúp chúng ta tránh được điều đó.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Chú Sa Di Cứu Kiến

 

Ngày xưa, có chú Sa di theo thầy học đạo. Một hôm, thầy nhập định và biết được túc nghiệp của chú Sa di chỉ còn sống trong khoảng bảy ngày nữa. Xuất định, vị thầy muốn chú được gặp cha mẹ liền bảo: “Con theo thầy tu học đã lâu, nay con có thể về thăm nhà, sau một tuần hãy trở lại”.

Chú Sa di được thầy cho phép về thăm nhà, vui mừng đảnh lễ ra đi. Trên đường về gặp trời mưa lớn, nước chảy tràn lan. Bên vệ đường có một tổ kiến bị ngập nước, đàn kiến hoảng hốt bám lấy nhau và có nguy cơ bị cuốn trôi. Thấy vậy, chú Sa di nghĩ: “Là đệ tử của Phật thì phải có tâm từ và tận lực cứu mạng tất cả chúng sanh”. Rồi chú lấy đất đắp bờ bảo vệ tổ kiến và vớt đàn kiến lên một nơi khô ráo. Sau đó Sa di về nhà, bảy ngày trôi qua mà chẳng có việc gì xảy ra.

Sáng sớm ngày thứ tám, chú Sa di trở lại chùa. Vị thầy rất ngạc nhiên không biết vì nhân duyên nào mà chú Sa di này vượt qua được túc nghiệp. Rồi thầy nhập định quán sát, thấy việc Sa di cứu kiến nên được phước báo an lành, chuyển hóa nghiệp yểu mạng và tăng tuổi thọ.

Khi chú Sa di đến đỉnh lễ và quỳ một bên, thầy hỏi:

- Con đã làm được một việc có công đức rất lớn mà có tự biết hay không?

- Thưa thầy, bảy ngày qua con ở nhà, không làm công đức gì cả.

Vị thầy bảo:

- Nhờ con cứu đàn kiến thoát chết nên thoát nghiệp yểu mạng, không những thế mà tuổi thọ còn được tăng thêm.

Chú Sa di nghe thầy nói xong lòng rất vui mừng và vững tin vào công đức, phúc báo cứu mạng chúng sinh. Từ đó, chú luôn tinh tấn tu tập, thương yêu và bảo vệ sự sống của mọi loài, về sau đắc quả A la hán.

                                                   Phượng Hoàng   (Theo kinh Phúc Báo)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Ban rải lòng từ, đem tình thương đến với mọi người, mọi loài và nỗ lực bảo vệ sự sống là sứ mạng của những người con Phật. Từ con sâu, cái kiến cho đến những loài vật khác và con người, hễ có mạng sống thì đều mong muốn hạnh phúc, an vui. Suy ngẫm về mong ước của chính bản thân mình thì có thể cảm thông và chia sẻ với mọi loài.

Con người thường cậy tài, ỷ mạnh hiếp yếu, luôn sát hại các loài khác để phục vụ đời sống. Điều đáng nói ở đây là những hành vi hành hạ, giết hại sinh vật chỉ để thỏa mãn thú vui, tiêu khiển trên sự đau khổ của loài khác. Trong tâm mỗi người vốn đã in đậm dấu ấn của ác nghiệp giết hại từ quá khứ. Hiện tại nếu tâm ấy không được chuyển hóa, thay thế bằng lòng từ mà còn tăng trưởng sự sát hại thì ác nghiệp càng nặng thêm.

Ngày nay chiến tranh, khủng bố, xung đột, bạo lực và giết chóc diễn ra khắp nơi trên thế giới. An ninh và an toàn cho đời sống con người bị đe dọa nghiêm trọng. Mặt khác, môi trường sinh thái bị phá hoại nặng nề do khai thác và săn bắt bừa bãi đã dẫn đến thiên tai, dịch họa đe dọa sự tồn vong của nhân loại. Đây là hậu quả của ác tâm sát hại, thiếu tu tập về lòng từ, không nhận thấy mối tương hệ cộng sinh giữa mọi loài. Sự sống vốn nương tựa và liên hệ mật thiết với nhau. Con người với thiên nhiên và muôn loài là một. Tàn phá thiên nhiên, sát hại sinh vật để phục vụ đời sống con người là một quan niệm thiển cận, loài người cần phải xem xét lại.

Đạo Phật thấy rõ về duyên sinh nên luôn tôn trọng mọi sự sống trong thiên nhiên. Nguyện không giết hại bất cứ sinh vật nào đồng thời ra sức bảo tồn sự sống bằng cách tu tập lòng từ, thực hành ăn chay, thương yêu loài vật, bảo vệ môi sinh… Chính việc làm nhỏ cứu giúp đàn kiến thoát chết mà đạt phước báo lớn của chú Sa di kia là điều đáng suy ngẫm để thực hành từ bi hỷ xả trong đời sống của mỗi chúng ta.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Ai Hay Hơn

Một con sư tử đang tản bộ trong rừng, bỗng nghe tiếng hót thật êm tai, nó lần theo tiếng hót đi tới một cây to, phát hiện âm thanh mượt mà du dương ấy là của con hoàng oanh đang đậu trên cành. Bên dưới, muông thú đang vây quanh dỏng tai nghe với vẻ say sưa như mất hồn, cơ hồ không còn nhớ việc gì đang xảy ra quanh mình.

Giọng hoàng oanh khi vút cao réo rắt như sáo trời nhẹ thổi, lúc mượt mà như tiếng thác reo vui, trầm bổng dịu dàng chẳng khác thiên thần đang khảy khúc mê ly. Tiếng hoàng oanh nhẹ như ru, êm như gió chiều, thân thiết như bằng hữu, thủ thỉ như tri âm, nỉ non như tâm sự, dịu dàng như an ủi… truyền cảm đến say lòng. Muông thú vây quanh bị tiếng hót hoàng oanh mê hoặc, dường như nín thở lắng nghe. Chúng chau mày, sa lệ, khi thích thú hòa ca, lúc thì hớn hở nhảy theo điệu nhạc…

Chứng kiến cảnh này sư tử ghen tị quá, xưa nay nó được tôn là vua loài thú nhưng đâu có được ngưỡng mộ sùng bái như vậy.

Nó tức tối rống lên, miệt thị:

- Hừm! Chỉ là tiếng hót xoàng, sao bằng âm thanh của ta.

Hoàng oanh ngừng bặt, dịu dàng nói:

- Xưa nay tôi chỉ biết sư tử có sức mạnh vĩ đại, chứ chưa nghe ngài hát bao giờ.

Sư tử ưỡn ngực khoe:

- Ngươi chưa nghe tiếng rống của ta sao? Âm thanh giòng họ sư tử nổi tiếng dũng mãnh nhất thế gian! Ngươi có thể nhả tiếng du dương mê hoặc bọn ngu ngốc, song ta chỉ cần rống một tiếng là thiên hạ sợ rét run… Nghe này!

Sư tử liền rống to một tiếng. Các loài thú quanh đấy kinh hoàng chạy trốn, chớp mắt không còn con nào.

Sư tử đắc ý bảo:

-  Thế nào? Âm thanh của ta lợi hại chưa?

Hoàng oanh mỉm cười:

- Về mặt này thì tôi thua hẳn ngài!

Nói xong, hoàng oanh vỗ cánh bay mất. Sư tử khoái chí, nhìn quanh với vẻ tự hào, nó vừa lắc mông vừa ve vẩy đuôi bước đi.

Mấy ngày sau, sư tử dạo chơi trong rừng, vô ý rơi vào bẫy của thợ săn. Nằm tuyệt vọng nơi hố sâu, rống lên từng hồi kêu cứu song tiếng rống của nó khiến thú rừng càng sợ hãi lánh xa, chẳng con nào dám bén mảng tới gần, kết quả sư tử bị thợ săn bắt.

Trong ngày đó, hoàng oanh cũng bị sa lưới, nó cất tiếng hót cầu cứu rất thiết tha, khiến loài vật trong rừng nghe đều phải rơi lệ, chúng không ngại hiểm nguy, cùng chạy tới phá lưới cứu hoàng oanh ra.

                                       Hạnh Đoan  (Kể theo Truyện ngụ ngôn của Lâm Thanh Huyền)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Người xưa nói: “Dùng sức thu phục người chẳng bằng dùng đức cảm hóa người”. Thật vậy, làm người sợ hãi, chỉ khiến họ lánh xa, không muốn giao tiếp nhưng cư xử cảm thông, ăn nói dịu dàng thì dễ chinh phục nhân tâm. Thị uy, ra quyền có thể làm người ta sợ thật đấy song trong nỗi sợ ấy luôn kèm theo khinh ghét. Chẳng ai muốn thân cận, giao tiếp với người chỉ biết ra uy, vì khi lòng đầy uy quyền thì tình thương vắng bóng. Đây là lý do Phật dạy các đệ tử phải hành ái ngữ, nói lời hòa hợp và yêu thương, không phải lời ngọt ngào đầu môi mà xuất phát từ sự tri hành hợp nhất, chân thật tận đáy lòng.

Người thích phô trương sức mạnh, quyền thế… chỉ thu được nể sợ và cô đơn. Làm người ta sợ tất nhiên họ không thiện cảm và luôn xa lánh. Tiếng hót hoàng oanh làm cho muông thú say đắm không phải chỉ vì nó hay không thôi mà trong đó còn chất chứa sự thân thiện, từ ái, yêu thương… Vì vậy mà có câu: “Người ta cúi đầu trước tài năng song họ lại nghiêng mình trước lòng nhân!”. Chính mỹ đức mới thu phục nhân tâm, dễ cảm hóa và tỏa sức thu hút thâm trầm, khiến người ta kính quý, thân gần.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Nhà Tiên Tri

Xưa, có ông Bà la môn luôn khoe mình thông thiên văn địa lý, có tài đoán quá khứ vị lai, ông thường đi khắp nơi tuyên bố mình có thần thông, tài trí hơn người.

Bốc phét nhiều quá, rồi cũng bị lộ nên ông phải lang thang, di cư đến chỗ nào thiên hạ chưa biết rõ về mình để trổ ngón nghề.

Lần này, ông đi đến một xứ lạ, hàng ngày ẳm đứa con trai nhỏ ra chợ, lựa chỗ đông người qua lại, khóc rống rất thảm thiết.

Tiếng khóc của ông làm thiên hạ mủi lòng, họ bu lại hỏi thăm. Ông hỉ mũi rồn rột, kể lể:

- Tôi nhờ biết quá khứ vị lai nên thấy rõ con tôi bảy ngày sau sẽ chết, vì vậy mà thương tâm, đau lòng không cầm được nước mắt!

Mọi người xúm nhau khuyên ông:

- Đừng lo! Chắc gì tiên đoán của ông là đúng? Biết đâu tuần sau thằng bé vẫn còn sống? Ông đừng căng thẳng quá! Chuyện chưa tới mà, ông khóc trước làm chi?

Ông Bà la môn quẹt nước mắt, nói quả quyết như đinh đóng cột:

- Mặt trời, mặt trăng có thể rơi, song tài tiên đoán của tôi chưa sai lệch bao giờ! Nếu không tin, các ông cứ đợi bảy ngày sau sẽ rõ!

Đến ngày thứ bảy, Bà la môn dùng gối bịt mũi giết chết con mình, ẳm xác nó ra chợ vừa khóc vừa kêu:

- Quý vị xem này, con trai tôi đêm qua vô duyên vô cớ tắt thở rồi!

Những người chung quanh đều kinh ngạc. Ai cũng cho ông có tài tiên tri như thần.

Họ xúm nhau an ủi, xin theo học và cung phụng ông rất hậu.

Nhưng ông Bà la môn vẫn chưa vừa lòng. Vài ngày sau, ông leo lên cây cổ thụ gần cổng thành, đu tòng teng trên đó và không ngừng kêu to:

- Hãy dâng cho ta một trăm con bò, một vạn quan tiền, một đầy tớ gái. Nếu các ngươi không làm đúng theo lời ta yêu cầu, ta sẽ buông mình rơi xuống đất cho chết… Chừng đó, cả thành này sẽ bị hủy diệt hết cho mà xem!

Những người nhẹ dạ nghe hăm, sợ quá, lật đật đáp ứng theo yêu cầu của ông và năn nỉ ông hãy tuột xuống cây, không nên tự hại, gieo họa cho dân.

Cứ thế, mỗi lần cần lợi dưỡng, Bà la môn đều leo lên cây hăm he, làm nư đủ điều.

Ngày nọ, ông cũng giở mửng cũ, hăm thả tay, buông tay… không may bị vuột tay thiệt, thế là ông rơi xuống, chết tươi.

Dân trong thành thấy thị trấn chẳng bị hủy diệt gì ráo, họ hiểu ra, bảo nhau:

- Lão Bà la môn này ngay cả việc đoán số mệnh của mình cũng không biết, nói gì đến tiên tri chuyện thiên hạ, chúng ta bị lão lừa rồi!

Hạnh Đoan (Phỏng theo kinh Bách Dụ)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Thật ra, khi người ta đối mặt với quá nhiều khổ đau trong cuộc sống, những lúc tuyệt vọng, cùng đường, họ thường tìm sự an ủi, cầu may bên ngoài. Dù vận đỏ chẳng đến như thầy bói nói, song những lời tiên tri không thật vẫn có tác dụng ru ngủ, vỗ về và xoa dịu cơn buồn hiện tại, vì nó cho người ta niềm hy vọng về một tương lai đổi đời, xán lạn. (Không có thầy bói nào nói thân chủ sẽ gặp toàn xui xẻo, mà sẽ đoán có đủ rủi may, rồi đen đủi sẽ qua và vận hên sẽ đến, vì không ai bỏ tiền ra để ngồi nghe thầy bói… trù ẻo mình).

Hy vọng và mơ ước là tâm lý thường tình của con người, thậm chí người ta còn sẵn sàng tự huyễn hoặc mình để trốn tránh đau khổ. Thế nhưng, khổ đau khó trốn, cũng như may mắn không từ trời rơi xuống hay do bề trên nào ban. Vì thật bất công nếu “bề trên” ban may cho người này, tặng rủi cho người kia. Các kinh điển Thánh triết luôn nhắc rằng: Chính chúng ta nhận lãnh quả từ những gì mình đã gieo. Đức Phật từng dạy: “Muốn biết đời sau, hãy nhìn cách sống đời này”.

Vì vậy, may rủi tùy thuộc vào mình chứ không ở nơi vận số. Ông Bà la môn tưởng lừa được người để hưởng lợi to, nhưng kết quả thật thảm: Ông mất con, mất mạng và mất luôn tiếng tăm gầy dựng nhờ dối gạt. Xem ra, cho dù ông có đem tất cả danh lợi đã thu hoạch ra đánh đổi… cũng không thể bù đắp được tổn thất quá lớn lao. Cái này gọi là tính già hóa non, lừa người thành hại mình.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Hóa Đơn Đặc Biệt

Peter là con trai của một người chủ cửa hàng bách hóa nhỏ. Những khi rảnh rỗi cậu thường hay ra chỗ cửa hàng của mẹ để chơi đùa hoặc phụ giúp mẹ những công việc lặt vặt. Mỗi ngày cửa hàng có không ít những tờ hóa đơn trả tiền hoặc thu tiền hàng hóa cần thanh toán trực tiếp tại cửa hàng, và cũng có nhiều hóa đơn được chuyển bằng đường bưu điện để thanh toán gián tiếp với khách hàng ở xa.

Peter thường được mẹ giao nhiệm vụ đưa những tờ hóa đơn đó đến bưu điện để gởi đi. Làm cái công việc này nhiều lần, dần dà cậu cảm thấy dường như mình đã trở thành một nhà kinh doanh nhỏ. Ngày kia, Peter nghĩ: mình cũng phải viết một cái hóa đơn gởi cho mẹ, trong đó ghi rõ các khoản mẹ phải thanh toán cho mình về những gì mình đã giúp mẹ mỗi ngày. Sáng hôm sau, mẹ cậu nhận được tờ hóa đơn ghi rõ:

Mẹ cần thanh toán cho con trai Peter những khoản như sau:

- Vận chuyển đồ dùng về nhà: 2 đồng

- Đem thư đến bưu điện gởi: 1 đồng

- Giúp người lớn dọn dẹp vườn hoa: 2 đồng

- Cả tuần lễ con đều ngoan ngoãn và vâng lời: 1 đồng

Tổng cộng: 6 đồng.

Mẹ Peter xem tờ hóa đơn xong, bà mỉm cười không nói gì cả. Trong bữa ăn tối hôm đó, sau khi ăn xong, Peter phát hiện ra dưới khay ăn của mình có 6 đồng, cậu nghĩ rằng, đây là số tiền công mẹ trả cho cậu. Cậu hí hửng, định bỏ tiền vào túi, không ngờ phía dưới tiền có kèm theo một tờ hóa đơn trả tiền gởi cho cậu.

Cậu rất ngạc nhiên, chậm rãi đọc những dòng chữ yêu quý của mẹ:

Peter cần thanh toán cho mẹ những khoản sau:

- Sống 10 năm hạnh phúc trong ngôi nhà của mẹ: 0 đồng

- Khoản chi phí cho việc ăn uống học hành trong 10 năm: 0 đồng

- Khoản tiền mẹ chăm sóc cho Peter khi ốm đau: 0 đồng

- Từ đó đến nay Peter luôn luôn có một người mẹ thương yêu và chăm sóc: 0 đồng

- Tổng cộng: 0 đồng.

Peter đọc đi đọc lại tờ hóa đơn trả tiền của mẹ rất đặc biệt không kém tờ hóa đơn của cậu. Cậu hối hận và cảm nhận được tình thương rất lớn của mẹ dành cho cậu không thể có gì so sánh được. Cậu đến bên mẹ, sà vào lòng và nhẹ nhàng bỏ vào túi mẹ 6 đồng tiền công. Còn tờ hóa đơn đặc biệt quý giá ấy, cậu giữ lại để làm kỷ niệm.

                                                                     (Theo sách Học làm người)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Đúng như vậy, đó là những tờ hóa đơn rất đặc biệt!

Cậu bé Peter thật đáng yêu phải không các bạn? Cậu vẫn còn bé lắm! Cậu đâu có biết khi còn trong bụng mẹ, cậu là một ông hoàng bé nhỏ, 280 ngày làm vua ở trong “Cung điện người con” (tử cung) rất sung sướng. Vua không làm gì cả, chỉ ngủ và chơi suốt ngày. Ăn thì đã có mẹ ăn thay, không ai quấy rầy vì đã có mẹ bảo vệ suốt đêm ngày, chẳng phải lo gì cả.

Cậu cũng đâu biết rằng hễ “con vào dạ là mạ (mẹ) đi tu”. Đến khi con chào đời, “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”, những lúc trái nắng, trở trời, con đau là mẹ đứng ngồi không yên. Một nắng hai sương, mẹ vất vả lo toan nuôi dạy con, mong con khôn lớn thành người và còn dõi theo bước chân con trong suốt cuộc đời…

Peter còn bé chưa biết hết công ơn sinh dưỡng sâu dày, chỉ mới giúp mẹ làm vài việc nhỏ, cậu đã đòi mẹ trả tiền công. Đa số những cô cậu trạc tuổi như Peter đều muốn kể công với mẹ. Nhưng chúng quên mất mẹ là giáo sư bậc nhất về tình thương, mẹ không cần nói nhiều lời, chỉ đáp lại bằng tờ hóa đơn đặc biệt, mẹ cậu đã giúp cậu nhận ra những điều chưa biết.

Còn chúng ta, những người con yêu quý đang sống dưới vòng tay che chở của mẹ, có khi nào viết tờ hóa đơn như Peter, đòi mẹ trả tiền công chưa? Nếu có, hãy đến bên mẹ, làm giống như Peter đã làm với mẹ cậu ấy, và luôn nhớ rằng chúng ta đang sở hữu một thứ tài sản quý giá nhất trên đời này, đó là cha mẹ.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment

Xăm Hình

Có một thiếu niên nọ, xem phim thấy các tay anh chị giang hồ xăm hình, ngưỡng mộ lắm, nghĩ thầm: “Nếu như mình xăm hình, chắc là sẽ oai phong, ai nhìn cũng phải nể và không dám coi thường!”.

Thế là chú tưởng tượng cảnh mình xăm con rồng thật bắt mắt. Đầu rồng nằm ngay ngực, thân rồng uốn lượn quanh thân chú, và đuôi nó nằm ngay bắp đùi sau. Ôi! Hách và oai ra phết!

Thiếu niên nghĩ đến đây đắc ý lắm. Ngay cả trong mơ cũng thấy mình bay lượn trên mây oai như rồng.

Nghe đồn ở thành phố nọ có một nghệ nhân xăm hình nổi tiếng, chú không quản xa xôi tìm tới, yêu cầu thầy xăm hình rồng theo ý mình.

Thầy nghe thiếu niên diễn tả, phục quá trời. Vị thiếu niên này quả có dũng khí, khó ai sánh bằng! Bởi, nhiều năm rồi, ông đâu thấy ai đòi xăm một con rồng bự khắp mình như vậy? Việc xăm hình rồng, phượng… là một nghệ thuật đòi hỏi sự chăm chút tỉ mỉ và phải tốn khá nhiều thời gian, chưa kể người xăm bị đau đớn không ít, vì phải hứng hàng ngàn, hàng vạn mũi kim đâm vào. Ngay những tay anh chị khét tiếng cũng phải xăm nhiều đợt mới chịu nổi. Vậy mà thiếu niên này lại nằng nặc đòi xăm nguyên con rồng bự hết trong một ngày, còn tỉnh bơ nói: “Không hề chi!”.

Thầy bảo thiếu niên:

- Chú hãy về tẩm bổ cho mập mạnh, tuần sau đến đây tôi xăm cho!

Đúng hẹn, thiếu niên đến, thầy bày dụng cụ lềnh khênh: kim, mẫu hình, khăn, gòn, cồn, dầu, mực… Thầy bảo chú nằm trên giường, vẽ hình mẫu xong, thầy xoa dầu, tẩm cồn kim, cho mực vào và chích vào sau đùi phải của chú.

- Á! – Thiếu niên rống to – Đau quá trời đất! Thầy xăm cái gì ở đó vậy?

- Đuôi rồng!

- Không cần xăm đuôi nữa! Cái đuôi làm tôi đau muốn chết! Xăm cái khác đi!

Thầy bảo thiếu niên xoay nghiêng, thoa dầu lên thân chú và bắt đầu làm lại.

- Ái da! -Thiếu niên lại rống to, vừa giãy nãy vừa rên rỉ – Đau chết đi! Thầy xăm gì vậy?

- Móng rồng!

- Thôi khỏi xăm móng, cái móng làm tôi đau dữ quá… giờ hãy xăm cái đầu rồng cho tôi!

Thầy bảo thiếu niên chuyển qua thế nằm ngửa và chích vào ngực thiếu niên.

Aáááá….! Ối trời ơi! – Thiếu niên ngồi bật dậy- Đau chết đi! Thầy xăm cái gì thế?

- Răng rồng!

- Khỏi khỏi! Chắc tại mấy cái răng rồng cứng nhọn nên mới đau khiếp vậy! Thầy… có thể đổi qua xăm… sừng rồng được không?

Thầy bật cười, xì một tiếng dài, ghim kim vào hộp, nói:

- Thuở giờ tôi chưa thấy ai đến xăm mà mới chích ba mũi đã la làng la xóm rồi đòi đổi lung tung như chú! Không phải các bộ phận con rồng làm chú đau, mà do chú chịu đau dở! Bây giờ dù có xăm sừng rồng, miệng rồng gì… cơn đau cũng giống vậy thôi!

- Ai mà biết xăm đau dữ vậy?!

Thế là mộng xăm con rồng oai hùng tắt ngấm, thiếu niên tẽn tò chào thầy, quay trở về.
(Kể theo Đột phá khổn cảnh của Lâm Thanh Huyền)

—o0o—

Bài Học Đạo Lý

Trước đây chỉ có các tay anh chị, hoặc các băng đảng xã hội đen xăm hình, nhằm phô trương thân phận, địa vị, đẳng cấp… Nhưng giờ dịch xăm đã tràn lan và trở thành mode thịnh hành trong giới trẻ.

Nhiều thanh niên còn đeo khoen tai, khoen mày, khoen mũi, thậm chí cả khoen ngực, khoen lưỡi… Nghe nói bấm lỗ đeo khoen lưỡi, khoen ngực… đã đau đớn mà còn gây hậu chứng phát đàm, ung mủ, có thể nguy đến tính mạng.

Chứng kiến cảnh này, tôi nghĩ: “Cái đẹp thật sự đâu phải là si mê nhắm mắt hùa theo, ai làm gì ta làm nấy?”. Người theo thời trang cần phán đoán sáng suốt, chọn cái tốt và loại bỏ những gì xấu, dở, gây hại. Được vậy thì dù có chạy theo mode, theo thời, họ vẫn giữ được bản sắc, phong cách riêng. Giữ được tính tự chủ độc lập, mới là người thông minh. Cái đẹp tạo sự đồng cảm nhưng cái lố bịch lại gây phản cảm.

Hãy biết tự bảo vệ nét đẹp bản thân. Giữ được tính độc lập, không xu thời, không bắt chước cẩu thả theo mode của phần đông, biết nhận định cái hay, cái đẹp, cái duyên mới là khôn ngoan. Giữa dòng đời đừng bị nhấn chìm trong ngọn thác thời trang, hãy biết đứng độc lập vững vàng, không để những mode xấu chi phối, ảnh hưởng bất lợi đến mình.

Nếu cứ nhuộm tóc bừa bãi, xăm hình khắp thân, đeo khoen lung tung để sinh ung thư da đầu, ung mủ lưỡi, ngực… thì đây chính là tự làm khổ mình, vừa thiệt thân vừa gây phản cảm đối với những người chung quanh.

Posted in Bài Học Đạo Lý | Leave a comment